Vợ là nhân sâm, bồ là rau muống

Vợ là nhân sâm, bồ là rau muống

Một gia đình nọ có 2 vợ chồng sống rất hoà thuận với nhau. Mỗi lần người vợ hỏi chồng về chuyện bồ bịch.
Anh chồng chỉ cười và nói:

– Ôi, vợ yêu là nhân sâm quý giá, còn bồ chỉ như mớ rau ngoài chợ mà thôi!

Người vợ nghe thấy vậy, lấy làm vui lắm. Nhưng rồi một hôm cô ta phát hiện ra chồng mình đã có bồ.
Một lần bắt quả tang họ ở một quán nọ, cô ta khóc lóc nói với anh chồng:

– Thế mà anh nói em như nhân sâm quý giá, còn bồ chỉ như là mớ rau.

Anh chồng mặt tỉnh bơ, thản nhiên đáp:

– Đúng rồi còn gì, nhân sâm thì chỉ khi nào ốm người ta mới uống, còn rau thì ngày nào chả phải ăn.

 

Thằng ba xạo

Một cô gái bị chặn lại vì chạy quá tốc độ…
Cô gái: Dạ thưa anh, có chuyện gì thế?
Cảnh sát: Chào cô, cô chạy quá tốc độ.
Cô gái: Ô thế ạ?
Cảnh sát: Cho tôi xem bằng lái nào?
Cô gái: Có là em đưa anh liền, nhưng em không có.
Cảnh sát: Cô không có bằng lái à?
Cô gái: Dạ mất rồi, 4 năm trước, một lần lái xe lúc say rượu, em đánh mất rồi.
Cảnh sát: Thế à… cho tôi xem giấy tờ xe nào.
Cô gái: Em không đưa được.
Cảnh sát: Sao không?
Cô gái: Xe này em ăn trộm mà.
Cảnh sát: Thiệt không?
Cô gái: Vâng, em đã giết chủ xe và lấy chìa khóa.
Cảnh sát: Thiệt không?
Cô gái: Xác ổng em chặt ra mấy khúc, gói trong bao, hiện còn để trong cốp xe. Anh muốn xem không?
Viên cảnh sát nhìn cô gái rồi từ từ lùi lại về phía xe của mình rồi gọi điện thoại. Vài phút sau, mấy chiếc xe cảnh sát phóng tới vây quanh xe cô gái.
Cảnh sát 2: Chào chị, mời chị bước ra khỏi xe một chút.
Cô gái bước ra khỏi xe.
Cô gái: Có chuyện gì không anh?
Cảnh sát 2: Nhân viên tôi báo cáo là chị đã ăn trộm chiếc xe này và giết chủ xe.
Cô gái: Giết chủ xe à?
Cảnh sát 2: Vâng, chị vui lòng mở cốp xe tôi xem.
Cô gái mở cốp xe, chả có gì trong đó cả.
Cảnh sát 2: Đây là xe chị à?
Cô gái: Vâng, giấy tờ xe của em đây ạ.
Viên cảnh sát chưng hửng.
Cảnh sát 2: Nhân viên tôi nói chị không có bằng lái xe.
Cô gái đưa tay vào túi, móc bằng lái và đưa cho viên cảnh sát.
Viên cảnh sát xem bằng lái, tỏ ra rất bối rối.
Cảnh sát 2: Cảm ơn chị, nhân viên tôi đã báo cáo rằng chị không có bằng lái, chị ăn trộm chiếc xe này, và chị còn giết chủ xe và chặt ra nhiều khúc nữa. Chị có giải thích gì không?
Cô gái: Chắc thằng ba xạo ấy còn bảo tôi chạy quá tốc độ nữa chứ gì ?

 

Kỹ Sư và Luật Sư

Một kỹ sư qua đời. Linh hồn anh ta tìm đến cổng thiên đàng. Thánh Peter xem qua hồ sơ và phán
– Cậu là kỹ sư à? Cậu đến nhầm chỗ rồi
Hồn anh kỹ sư buồn rầu tìm đến cửa địa ngục. Tất nhiên là địa ngục thì chẳng từ chối ai cả. Chẳng bao lâu, anh kỹ sư thấy rất khó chịu về tiện nghi dưới địa ngục, anh ta bắt đầu thiết kế thang máy và điều hòa không khí. Một thời gian sau, địa ngục có cả thang máy, điều hòa và hố xí tự hoại nữa. Mọi người rất yêu quý anh.
Một ngày kia Thượng Đế phone xuống hỏi chuyện Quỷ Sa tăng
– Này anh bạn, tình hình dưới ấy thế nào?
– Ồ, cảm ơn ngài. Dưới này vừa nhận được một kỹ sư khoảng 6 tháng nay, bây giờ hay lắm, đã có cả thang máy và điều hòa không khí rồi.
– Cái gì? Peter lại nhầm lẫn rồi. Sao lại để cho kỹ sư xuống dưới đấy? Cậu gửi ngay cái thằng kỹ sư ấy lên đây cho tôi.
– Ồ không, thưa ngài. Cái gì chứ việc đó thì không thể được. Có kỹ sư thích lắm.
– Này, có làm ngay hay không thì bảo. Tôi khởi kiện anh ngay bây giờ.
– Ha ha ha. Thích kiện hả? Trên ấy làm gì có thằng Luật sư nào đâu mà đòi kiện với chả cáo.

 

Hiểu được là chết liền !

….Một thiền sư già đi thiền hành với một đệ tử trẻ.Im lặng !

Bỗng, anh đệ tử tằng hắng rồi thưa :
– Bạch thầy ! Con xin hỏi !
Thầy “Ừ “!
– Bạch thầy ! Tại sao trời lại xanh ?
Thầy giải nghĩa liền :
– Con cá trong nước !
Đệ tử chấp tay cúi đầu,đi thiền hành tiếp.
Im lặng !
Bỗng, anh đệ tử lại tằng hắng :
– Bạch thầy ! Con xin hỏi !
Thầy lại “Ừ “!
– Bạch thầy ! Tại sao có gió ?
Thầy giải nghĩa :
– Màu trắng, màu đen !
Đệ tử lại chấp tay cúi đầu, tiếp tục bước.
Bỗng, anh ta ré lên cười !
Thiền sư hỏi “ Sao cười ? “
Anh ta vừa vỗ tay vừa nhảy cỡn lên :
– Bạch thầy ! Con vui quá! Vui quá !
Thiền sư hỏi :
– Tại sao vui ?
– Bạch thầy ! Người ta nói ‘’ Thiền sư nói gì, hiểu được là chết liền ! ‘’. Những gì thầy giải nghĩa nãy giờ, may quá, con không hiểu khỉ gì ráo nên con còn sống ! Vui quá ! Vui quá !
Thiền sư thở dài, tiếp tục bước thiền hành, vừa đi vừa suy nghĩ : « Mình năm nay 80 tuổi. Sống lâu cỡ nầy chắc nhờ mình không hiểu khỉ gì ráo những gì thầy của mình nói hồi đó ! »

 

Tục ngữ Việt Nam

Bốn người khách vốn thuộc hạng văn thi sĩ … vào một quán nhậu. Trong khi chọn món ăn, cô hầu bàn đến cười duyên :
-“Em rót bia cho mấy anh nhé?”
Anh A liền tán :
-“Xin lỗi, em mỹ danh là gì, ở đâu ?”
Cô cười dịu dàng:
-“Hỏi quê… rằng biển xanh dâu,
Hỏi tên… rằng mộng ban đầu đã xa”.
Anh B vỗ đùi:
-“Úi chà ! Giỏi thơ thiệt ! Tuyệt vời. Rót bia đi”.
-“Dạ . Cảm ơn quí anh”.
Anh C đon đả :
-“Lấy thêm ly. mời Em cùng ngồi uống cho vui”.
-“Dạ”.
Thế là bàn có một bông hồng giữa đám sỏi đá.
Anh D mời tất cả cụng ly :
-“Coi bộ em giỏi thơ văn nhỉ !”.
Cô cười rất duyên :
-“Em cũng học mót chút ít để góp chuyện cho vui mà.Quí anh không thấy phiền chứ ? Chắc quí anh giỏi văn thơ lắm thì phải?”
Anh A xoa bụng, ưỡn ngực :
-“Cũng đủ xài. Ai hỏi gì nói nấy. Nhất là lãnh vực văn học. Không bao giờ bị kẹt”.
-“Thế là quá giỏi rồi. Vậy, em đố các anh về lĩnh vực văn học nhé?”
Cả bàn nhốn nháo hẳn lên, vui như cá gặp nước. Họ là nhà giáo, nhà thơ , nhà văn cả … hớn hở cụng ly chờ đợi cuộc vui .
Cô gái cười, cất giọng oanh vàng :
-“Nếu có một ông khỏa thân” (trần truồng) cõng một ông cũng khỏa thân… Câu tục ngữ nào tả được cảnh này ?”.
Bốn vị khách không tìm ra câu tục ngữ nói về trường hợp hy hữu này …
Anh C thẳng thắn :
-“Chúng tôi thua. Cô giảng đi.
Cô bình tĩnh giải thích:
-Này, một ông khỏa thân, cõng trên lưng một ông cũng khỏa thân… Lúc ấy sẽ có tình trạng mà tục ngữ nói: “Gậy ông đập lưng ông”.
-“Úi trời! Đúng quá”
Cả bàn cười rộ . Vừa rót thêm bia, cô vừa đố tiếp:
-“Cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta nhảy tõm xuống ao, tục ngữ nói sao nào?”
Bốn vị khách lại bí … Họ lại yêu cầu cô giải đáp.
Cô cười tủm tỉm :
-“Ông khỏa thân mà nhảy xuống ao sẽ gây nên cảnh: “Chim sa cá lặn”.
Cả bàn cười vang như pháo tết.
-“ Úi trời ! Đúng quá đi. Cá trông thấy chim hãi quá phải lặn là cái chắc !”
Thừa thắng xông lên, cô ta đố tiếp:
-“Thưa quí anh, cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta ngồi lên hòn đá, tục ngữ bảo sao nào ?”
Bốn khuôn mặt thông minh kia lại đờ đẫn. Cô gái thong thả giải thích :
-“Ông khỏa thân ngồi lên hòn đá, lúc ấy tục ngữ phán rằng: “Trứng chọi đá !”
Cả bàn cười vang.
Ông D hăm hở :
-“Đúng quá đi chớ . Trứng này không bể được ! Còn nữa không ?
Cô gái tiếp :
-Cũng cái ông khỏa thân đó nữa, nay lại ngồi bệt xuống đất không chịu đứng dậy thì theo «tục ngữ» các ông nói sao ?
Bốn khuôn mặt sáng láng trông thật thảm thương, bí rị.
Cô gái tiếp :
-Cái ông khỏa thân ngồi bệt xuống đất diễn ra cảnh mà «tục ngữ» gọi là «Đất lành chim đậu» . Đúng chưa ?
Cả bọn cười vang…

Hết biết

Giờ văn, thầy giáo :
– Theo các em, thế nào là sự rung động trước cái đẹp?
1 bé trai:
– Thưa thầy, ví dụ như khi ta đứng trước hoa hậu hoàn vũ khỏa thân 100% ạ!
Thầy:
– Em ra ngay khỏi lớp, ngày mai mời phụ huynh đến gặp tôi!
Ngày hôm sau, thầy vào lớp, thấy bé trai nọ lầm lỳ trốn xuống ngối tít tận cuối lớp, dãy bàn cuối cùng.
Thầy:
-Ai cho phép em tự tiện đổi chỗ? Phụ huynh đâu, sao không thấy đến?
Trò:
-Thưa thầy, bố em bảo là, nếu thầy không thấy rung động khi đứng trước hoa hậu khỏa thân, thì thầy là người bệnh hoạn, pê-đê, bố em kinh tởm không muốn gặp, còn em phải ngồi tránh thầy ra.

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

8 cách chữa đau đầu không cần dùng thuốc

8 cách chữa đau đầu không cần dùng thuốc

 

Đau đầu phổ biến ở mọi lứa tuổi. Và không phải trong bất cứ trường hợp nào, thuốc cũng phát huy tác dụng. Cách tốt nhất để loại thải chứng bệnh này ra khỏi cơ thể là sử dụng những liệu pháp tự nhiên, lành mạnh.

1. Ngủ đủ giấc: Một giấc ngủ ngon lành có giá trị bằng cả trăm liều thuốc bổ. Tranh thủ chợp mắt bất cứ lúc nào cảm thấy căng thẳng. Ngủ đủ giấc sẽ là năng lượng cho một trí óc minh mẫn, sáng suốt.

giacngu410

2. Cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể: Dạ dày trống rỗng có thể là thủ phạm giấu mặt sau một cơn đau đầu. Ăn các bữa nhỏ, lành mạnh và đủ chất là nhân tố ổn định cấu trúc não.

cungcap_nangluong.jpg

3. Dùng trà thảo dược: Thay vì những loại thuốc giảm đau tức khắc, hãy dùng trà thảo dược. Các vị bạc hà, gừng, hoa cúc phát huy tác dụng thư giãn đầu óc và tốt cho sức khỏe.

traxanh.jpg

4. Thiền với âm nhạc: Thiền đã được công nhận có tác dụng giữ cơ thể khỏe mạnh và tĩnh tâm. Khi bị những cơn đau quấy rầy, hãy nghe những bản nhạc êm dịu và chìm vào thế giới thiền định. Cơn đau đầu cũng nhờ đó mà tan biến.

ngoithien.jpg

5. Tập thể dục nhẹ nhàng: Khi có dấu hiệu đau đầu, hãy rời bàn làm việc và đi dạo ở một không gian mở, thoáng và thử vài động tác thể dục nhẹ nhàng. Nếu không, đạp xe, chạy bộ cũng là một phương pháp hiệu quả loại bỏ chứng đau đầu.

theduc.jpg

6. Bổ sung nước uống: Mất nước là một trong những nguyên do phổ biến gây đau nửa đầu hoặc đau đầu từng cơn. Hãy tập thói quen uống đủ lượng nước định mức cho mỗi ngày. Lưu ý là nhiệt độ nước uống cần cân bằng với nhiệt độ trong phòng. Tốt nhất là dùng nước ấm để giảm thiểu những cơn đau đầu bất chợt.

uongnuoc.jpg

7. Tập massage cho bản thân: Mỗi người nên tự trang bị cho mình những động tác massage đầu đơn giản để tự chữa trị thay vì luôn phụ thuộc các tiệm massage. Mang theo một chai dầu gió và dầu khuynh diệp ở bên mình để có thể ứng cứu trong những trường hợp khác nhau.

massage_dau.jpg

8. Hào phóng nụ cười: Những biến động thất thường, công việc căng thẳng làm bạn đánh mất tiếng cười lúc nào không hay. Đôi lúc, hãy cho cơ thể thả lỏng và mỉm cười thay vì vẻ mặt nhăn nhó, khó chịu thường trực. Tập thói quen chỉ dùng thuốc trong trường hợp không đừng được, thay vào đó sử dụng các liệu pháp ý thức, tự nhiên là cách gìn giữ, bảo vệ sức khỏe hiệu quả nhất.

nucuoi.jpg
Theo Lê Phương
Giáo dục Việt Nam
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

66 lời khuyên cho cuộc sống

66 lời khuyên cho cuộc sống

1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.

2. Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho anh. Vì chính tâm anh không buông xuống nỗi.

3. Anh hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình.

4. Anh phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương anh, anh phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.

5. Khi anh vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi anh đau khổ, anh hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.

6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.

7. Anh có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.

8. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định anh sẽ ân hận.

9. Khi nào anh thật sự buông xuống thì lúc ấy anh sẽ hết phiền não.

 

10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.

11.Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.

12. Anh đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, anh phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính anh.

13. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.

14. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.

15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin anh “ đa khẩu hạ lưu tình”.

16.Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa anh là ai? Giả sử anh bị chó điên cắn anh một phát, chẳng lẽ anh cũng phải chạy đến cắn lại một phát?

17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người anh không hề yêu thích.

18. Mong anh đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.

19. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao anh lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao anh phải chứa đầy những não phiền như vậy?

20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì anh hiểu nó quá ít, anh không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi anh hiểu sâu sắc, anh sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của anh.

21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.

22.Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, anh hiểu chứ?

23. Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với mình.

24. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.

25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp anh mới được tự tại.

26. Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy
sẽ đỡ phải hối hận hơn.

27. Khi anh thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối anh.

28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.

29. Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình.

30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu anh không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.

31. Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không, thì có thể biết được họ có thật lòng không.

32. Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu.

33. Người không tắm sửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ sự chân tài thực học.Có đức tự nhiên thơm.

34. Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của anh đi.

35. Anh cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng,như thế anh sẽ rất đau khổ.

36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.

37. Nói một lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy?

38. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.

39. Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào.

40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.

41. Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình.

42. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả.

43. Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên anh cần phải “ tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên”.

44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính anh.

45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, anh mới vượt qua hiện thực.

46. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, anh dối người khác được nhưng không bao giờ dối nổi lương tâm mình.

47. Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác.

48. Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì?

49. Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của anh, cũng đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.

50. Cảm ơn thượng đế với những gì tôi đã có, cảm ơn thượng đế những gì tôi không có.

51. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.

52. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cán của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.

53. Thành thật đối diện với mâu thuẩn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.

54. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.

55. Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.

56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dốianh nhất thời, nhưng nó lại gạt anh suốt đời.

57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.

58. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ này, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.

59. Nếu anh có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.

60. Anh có nhân sinh quan của anh, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới anh. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được anh. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.

61. Anh hi vọng nắm được sự vĩnh hằng thì anh cần phải khống chế hiện tại.

62. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.

63. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.

64. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Anh muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.

65. Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.

66. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ

Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ

 

 

LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ

 
 
Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có  trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).
Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa.
Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp
Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt.
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ.

Trong sách Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: “Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận…. ”
Sách này còn viết rằng: “Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện.”

Sử xưa cũng ghi lại rằng: ” Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và  Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…”

Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu.

Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu.
 
 
Chữ Việt cổ trên thân Trống Đồng Lũng Cú.
 
 
Tuy nhiên, với chí khí bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.
 
Nhìn chung Việt Nam vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1)  nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân gian và ngày càng phong phú, súc tích.
 
Trong quá trình xã hội phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.
Vào thế kỷ XV. Sứ thần Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt.
(*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt Nam từng phải triều cống.
Giai đoạn năm 939, thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. Tổ tiên ta  luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du, là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại.
Tuy nhiên, chữ Nôm vì được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng rộng rãi.
 
 
Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du
(Sách cổ viết chữ Nôm)
 
 
Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát  triển nhanh chóng.
Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên)   http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt.
Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ.  Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.  
Bản Kinh lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau:
 
 
Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và  “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651. 
 
Từ điển Việt-Bồ-La
 
 
Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu)
 
 
Hình bìa  “Sách Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày”
 
Link sách DOWN LOAD (Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày) 
(Tài liệu lưu trữ  88.3 MB dạng (pdf)
https://www.dropbox.com/s/3eg88d2zf720bf2/PHEP%20GIANG%208%20NGAY%20%28TVST%29%20%20-%20%20Cathechismvs%20%20%20Alexandre%20de%20Rhodes.pdf
 
Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam.
Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt.
Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes – Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc… cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc… cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang.
Sách  không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes
Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630).
Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học.
Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ.

Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ  truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.

Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có thể chia làm 3 giai đoạn sau:
 
(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ – Nghiên cứu của linh mục Ðỗ Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972).
 
Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626):
Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa.
 
Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm 1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ.
 
Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ:
 
– Annam = An Nam
– Unsai = Ông Sãi
– Ungue = Ông Nghè
– Bafu = Bà Phủ
– doij = đói
– scin mocaij = xin một cái
– Sayc Chiu = Sách chữ
– Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết
 
 
Giai Ðoạn Hai (1631-1648)
Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này, đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như:
 
· Nghệ An
· Bố Chính
 
Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác
 
· Thính hoa: Thanh Hóa
· oũ bà phủ: Ông bà Phủ
· hụyen: huyện
· sãy: sãi
 
Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) . Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) .
 
Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình.
 
Giai Ðoạn Ba (1649-1651):
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc Lộ (7) . Hai cuốn ấy là:
 
· Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°
· Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn)
 
 
 
Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình)
Mãi cho đến ngày 18 tháng 9 năm 1924 (Giai đoạn Pháp thuộc), toàn quyền Đông Dương Martial Merlin (1923-1925) đã ký quyết định chính thức cho dạy chữ Quốc Ngữ ở ba năm đầu cấp tiểu học, được phổ biến rộng rãi toàn quốc. Sự ra đời và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt Nam, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây qua sách báo, nâng cao nhận thức, dân trí phát triển cao hơn và nhanh hơn so với các nước trong vùng.
Cũng nhờ từ đấy, người Việt, tiếng Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng chính sách Hán hóa của Trung Hoa đã đô hộ nước ta trong suốt gần 1000 năm.
Học sinh trường Công giáo tỉnh Nam Định
 
Tinh thần sĩ phu (Nho giáo) xưa, ít nhiều bị lệ thuộc chẳng những Nho giáo mà cả văn hóa Trung Hoa.  Việc bãi bỏ Nho học và thay đổi chữ viết từ chữ Nho (chữ Hán ) sang Quốc ngữ, đã giúp Việt Nam chấm dứt vĩnh viễn giai đoạn lệ thuộc chữ Hán và văn hóa Trung Hoa.
 
Vì đắm chìm lâu đời trong văn hóa Trung Hoa, nên có người lầm tưởng rằng văn hóa Trung Hoa là văn hóa dân tộc, và những anh hùng, liệt nữ Trung Hoa là khuôn vàng thước ngọc cho văn hóa Việt, lịch sử Việt. Các tác giả chữ Nho xưa thường dùng điển tích về những vua quan, anh hùng, thần thánh, phong tục, tập quán của Trung Hoa để làm mẫu mực cho người Việt.
 
Nhưng từ khi có chữ Quốc ngữ, dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi văn hóa Trung Hoa, nhiều người mới có cơ hội tìm thấy lại cội nguồn, trở lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Từ đấy,  nền văn hóa dân tộc càng ngày càng được đề cao trong nền văn học Quốc ngữ, trong Sử sách giáo khoa: Hai Bà Trưng, Triệu Nữ Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung mới là những anh hùng đích thực, những tấm gương sáng trong lịch sử của người Việt Nam.
 
Trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam
 
Trường Trung học Adran (Collège d’Adran) (3) Là trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở ở Sài gòn từ năm 1861 – 1887.
Trường ADRAN Sài Gòn, đến năm 1954 được chia thành 2 Trường Trung Học : Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương.
 
Hình một lớp học trong buổi thực nghiệm ngoài trời.
Chấm dứt  thời kỳ của nền giáo dục chữ Hán, chữ Nôm: Lối học từ chương.
 
Một lớp học trong giờ Địa lý.
Hình Thầy đồ và các học sinh ngày xưa.
 
Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912)
 
 
Giấy Khai Sinh năm 1938 còn sử dụng 4 ngôn ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ và Pháp)
 
 
 
Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ lần đầu tiên phát hành tại Sài Gòn, ngày 15/4/1865.
 
Trương Vĩnh Ký – Pétrus Ký (1837-1898)
 
 
Khi nói đến chữ Quốc ngữ, và Báo Chí Việt Nam thì cũng không thể quên công lao của Ông Trương Vĩnh Ký, ông là người đầu tiên sáng lập,khai sinh nền Báo Chí Quốc ngữ của Việt Nam, ông là Tổng biên tập tờ Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên: 
 
Ông Pétrus – Trương Vĩnh Ký đã viết một bài khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, trong đó có đoạn như sau:
“…Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo (văn phạm) dạy tiếng Lang Sa (Pháp), có làm ra chữ Quốc ngữ (sic) để người ta dễ học. Những người ký lục (thư ký) giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ (khó dễ) cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ Quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết…”
 
Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, và chuyên khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.Với tri thức uyên bác, am tường và nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên ông được:
– Tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp.
– Được nêu tên trong Bách khoa Tự điển Larousse  http://www.larousse.fr/archives/pages/recherche.aspx?keyword=Truong%20Vinh%20Ky,
– Đứng vào vị trí ” Toàn Cầu Bác Học Thập Bát Quân Tử”  tức là một trong 18 nhà bác học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 19.
– Đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới, ông viết và đọc thông thạo 27 ngoại ngữ, một nhà thông thái biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam… (4)
Ông đã để lại cho kho tàng Văn học Việt Nam hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật…
 
Tượng đài lịch sử, vinh danh ông Trương Vĩnh Ký cạnh Nhà Thờ Đức Bà trước 1975.
 
Mãi đến thời gian gần đây, phần tượng lịch sử còn lại của ông được đem ra triển lãm “mỹ thuật” trong Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM.
Các nhà khoa bảng, trí thức, cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, kết hợp với nhiều nhà trí thức cấp tiến thời đó, khởi xướng ra các phong trào Duy Tân, Đông Du nhằm vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho (Hán) học, kêu gọi việc học Quốc ngữ để nâng cao dân trí, với lý do đơn giản: Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho (Hán). Các ông đã vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (Trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục,1907). Trong một bài thơ khuyến khích việc học quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết:
“… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước, Phải đem ra tỉnh trước dân ta, Sách các nước, sách Chi-na, Chữ nào nghĩa ấy, dịch ra cho tường…”
Các sĩ phu của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Khi phong trào Duy Tân, và Đông Kinh Nghĩa Thục ngày càng lớn mạnh, khiến cầm quyền thuộc địa Pháp lo ngại tinh thần yêu nước và chống thực dân Pháp của đồng bào Việt Nam. Việt Nam Vong Quốc Sử của nhà ái quốc Phan Bội Châu xuất hiện lúc bấy giờ là một trong những tiếng chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc. Làn sóng yêu nước nổi lên khắp nơi, làm thực dân Pháp phải lo sợ, nên đã ngưng trợ cấp và đóng cửa một số trường.
 
Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu.
 
 
Chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này vẫn ngày càng phổ biến, đã giúp dân chúng dễ dàng học, hiểu biết những sơ đẳng cần thiết trong đời sống, theo dõi sát các tin tức thời sự, các chuyển biến thời cuộc chính trị trong nước và thế giới qua sách báo, truyền đơn.Từ năm 1925 nhiều đảng phái chống Pháp được thành lập, truyền đơn, lời kêu gọi, sáng tác thơ văn yêu nước… đều viết bằng chữ Quốc ngữ.
 
 
Nền văn học Việt Nam vào năm 1933 chuyển biến mạnh, xuất hiện một thể loại Văn mới, là Văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ do ông Nguyễn Tường Tam, bút hiệu Nhất Linh và nhóm văn sĩ thành lập lấy tên: Tự Lực Văn Đoàn, với 10 năm sáng tác và hoạt động báo chí, khai sinh nên dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Nổi trôi trong những diễn biến lịch sử bất lợi, khó khăn của thời cuộc đất nước lúc bấy giờ, nhưng nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã cống hiến nhiều vào sự phát triển Văn Học của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Toàn bộ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vẫn được lưu truyền tự do và được đưa vào trong giáo trình giảng dạy Văn học tại các trường Trung học miền Nam sau 1954 mãi cho tới 1975.
 
Lớp học Mẫu giáo trong giờ Tập Viết, giáo dục miền Nam trước 1975
 
 
Tóm lại, ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) là phương cách để con người giao tiếp, thông tin với nhau, hoặc diễn đạt tư tưởng của mình cho người khác biết. Ngôn ngữ cũng là một phần của văn hoá, là linh hồn của một dân tộc. Trải qua thời gian và không gian, ngôn ngữ không ít, nhiều đã phải thay đổi để cho phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và đà tiến hoá của xã hội.
 
 (1)
– Ca Dao: Câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian
– Tục Ngữ: Câu nói có tính cách răn dạy hay châm biếm chuyện đời
– Châm Ngôn: Lời văn có vần điệu để khuyên đời
– Cách Ngôn: Lời nói làm khuôn phép (cách kiểu mẫu, khuôn mẫu)
– Ngạn Ngữ: Câu nói ngắn gọn của dân gian với mục đích răn dạy
– Phong Dao: Lời ca câu hát dân gian, diễn tả phong tục tập quán các địa phương.
– Phương Ngôn: Lời nói thông dụng của từng địa phương có ý nghĩa như câu tục ngữ
– Thành Ngữ: Những câu nói ngắn gọn, dùng khi nói hay viết đã được trau chuốt.
– Dân Ca: Những bài ca phát âm tiếng địa phương dân tộc, dễ hiểu và tâm tình dân tộc
(2) Văn “Tế cá sấu”
Ngặc ngư kia hỡi mày có hay
Biển Đông rộng rãi là nơi này
Phú Lương đây thuộc về thánh vực
Lạc lối đâu mà lại đến đây
Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
Xuống nước giao long cũng phải chừa
Thánh thần nối dõi bản triều nay
Dấy từ Hải Ấp ngôi trời thay
Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh
Biển lặng sông trong mới có rày
Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy
Nhân vật đều yên đâu ở đấy
Ta vâng đế mạng bảo cho mày
Hãy vào biển Đông mà vùng vẫy.

(3) Adran: Là Tước Hiệu của Phu tá Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc)
(4) Petrus – Trương Vĩnh Ký :
Ông đã được nhận các chức vụ và huân huy chương:
Huy chương Dũng sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã ngày 1 tháng 10 năm 1863.
Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội nhân chủng học, Hội Giáo dục Á châu.
Huy chương Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha ngày 27 tháng 6 năm 1886.
Thành viên Hội chuyên khảo về Văn hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876.
Hội viên Hội chuyên học địa dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878.
Huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng của Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883.
Huy chương Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long Khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886.
Huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886.
Huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887
Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng gia Cam Bốt.
Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ.
Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.
Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

34 câu nói của những người có kinh nghiệm đời 90t-Regina Brett.

1. Life isn’t fair, but it’s still good.
(Cuộc đời tuy bất công nhưng vẫn còn tốt chán.)
2. When in doubt, just take the next small step.
(Khi nghi ngại, hãy từ từ mà tiến.)
3. Life is too short. Don’t waste time hating anyone.

(Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.)

4. Only friends and family will be present in sickness. Stay in touch.

(Chỉ có gia đình và bạn bè bên cạnh khi đau ốm. Nhớ gần gũi.)
5. Pay off your credit cards every month.
(Hãy trả hết nợ thẻ tín dụng mỗi tháng.)
6. You don’t need to win every argument. Agree to disagree.
(Không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Hãy chấp nhận bất đồng.)
7. Crying is good, but it’s more healing crying with friends.
(Khóc cũng tốt, nhất là khi khóc với bạn bè.)
8. Release your children when they become adults, its their life now.
(Hãy buông con cái ra khi chúng trưởng thành. Bây giờ chúng có cuộc sống riêng.)
9. Save for retirement starting with your first pay cheque.
(Để dành cho tuổi về hưu ngay với số tiền lương đầu tiên.)
10. When it comes to chocolate, resistance is futile.
(Để ý sự cám dỗ)
11. Make peace with your past so it won’t screw up the present.
(Hãy để yên quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.)
12. It’s OK to let your children see you cry.
(Con cháu thấy mình khóc đâu có sao)
13. Don’t compare your life to others. They have different journeys.
(Đừng đem đời mình so với ai đó; đời mỗi người mỗi khác)
14. Never be in a secret relationship. (Đừng bao giờ dính vào một mối quan hệ bí mật)
15. Everything can change in the blink of an eye.
(Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt)
16. Take a deep breath. It calms the mind.
(Hít thở sâu giúp tinh thần ổn định)
17. Get rid of anything that is neither useful, beautiful, nor joyful.
(Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã)
18. What doesn’t kill you really makes you stronger.
(Điều gì không giết ta được sẽ giúp ta mạnh hơn)
19. It’s never too late to have a happy childhood. (Sống lại như trẻ con lần nữa cũng không phải là trễ quá) 20. For whatever you love in life, don’t take no for an answer.
(Những gì yêu quí trên đời, ta đều phải ráng đạt cho được)
21. Today is special. Enjoy it.
(Ngày hôm nay là ngày đặc biệt. Phải tận hưởng nó)
22. Your belief of your being right doesn’t count. Keep an open mind.
(Đừng tin rằng mình luôn luôn đúng. Phải có đầu óc cỏ̉i mỏ̉)
23. No one is in charge of your happiness but you.
(Hạnh phúc của mỗi người là chuyện riêng của người đó)
24. Forgive everyone everything.
(Hãy tha thứ tất cả cho mọi người)
25. What other people think of you is none of your business.
(Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó về mình)
26. Time heals almost everything. Give time time.
(Thời gian hàn gắn gần như mọi sự. Hãy để cho thời gian có thì giờ)
27. However good or bad a situation is, it will change.
(Tình thế dù tốt hay xấu, rồi cũng thay đổi)
28. Don’t take yourself so seriously. No one else does.
(Đừng quá nghiêm khắc với bản thân. Không ai làm như vậy)
29. Believe in miracles.
(Hãy tin vào phép lạ)
30. Your children get only one childhood.
(Con cái chúng ta chỉ có một thời trẻ trung)
31. Envy is a waste of time. (Ganh tị là phí phạm thì giờ) 32. It’s OK to yield.
( Nhường nhịn một chút cũng không sao)
33. Life is a gift.”
(Cuộc sống là một món quà)
34. Friends are the family that we choose. (Bạn bè là gia đình do chúng ta chọn)

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

0 điều nên học từ Albert Einstein

10 điều nên học từ Albert Einstein

 

 

 

 

  Albert Einstein
 

 http://guardianlv.com/2013/10/albert-einstein-quotes-and-interesting-facts-a-legend-of-science-philosophy/

Mười điều nên học từ Albert Einstein

1. Theo đuổi sự tò mò:

“Tôi không hề có tài năng gì cả. Tôi chỉ vô cùng tò mò.”
Điều gì gợi nên tính tò mò của ta? Tôi tò mò là tại sao một người thành công còn người khác lại thất bại. Đây là nguyên nhân tại sao tôi bỏ nhiều năm trời để nghiên cứu sự thành công. Điều gì khiến ta tò mò nhất? Sự theo đuổi tính tò mò là bí quyết thành công của ta đấy.

2. Tính kiên nhẫn là vô giá

“Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi nghiên cứu vấn đề lâu hơn thôi”
Nhờ kiên trì mà rùa đã thắng được thỏ, Ta có sẵn sàng kiên trì đến cùng để đi đến mục tiêu của mình? Người ta cho rằng giá trị của con tem chứa đựng trong khả năng dính với thứ gì đó cho đến khi nó đến được nơi cần đến. Hãy hoàn thành cuộc đua mà ta đã bắt đầu!

3. Tập trung cho hiện tại:
 
“Bất cứ người đàn ông nào có thể lái xe an toàn khi đang hôn một cô gái đơn giản là vì anh ta đã không hôn nhiệt tình.”
Bố tôi nói rằng ta không thể cưỡi một lúc hai con ngựa. Tôi muốn nói rằng, ta có thể làm bất cứ điều gì nhưng không thể nào làm hết mọi việc. Hãy học cách tập trung vào công việc hiện tại, hãy chuyên tâm với những gì ta đang làm.
Năng lượng của sự tập trung là sức mạnh, là sự khác biệt giữa thành công và thất bại.
4. Trí tưởng tượng là sức mạnh:

Trí tưởng tượng là tất cả. Nó là sự xem trước của những gì sẽ xảy ra. Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức.”
Ta có sử dụng trí tưởng tượng của mình mỗi ngày không? Einstein nói rằng trí tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức! Trí tưởng tượng giúp ta hình dung được tương lai. Einstein nói tiếp: “Dấu hiệu thực sự của sự thông minh không phải kiến thức mà là trí tưởng tượng”. Ta có đang tập thể dục những “cơ bắp trí tưởng tượng” hàng ngày không? Đừng để một thứ có quyền lực lớn như trí tưởng tượng ngủ yên.

5. Hãy mắc lỗi

“ Một người không bao giờ mắc lỗi sẽ không cố tìm tòi điều mới lạ.”
Đừng bao giờ sợ bị mắc lỗi. Một sai lầm không phải là thất bại. Sai lầm sẽ giúp ta làm tốt hơn, thông minh hơn và nhanh nhạy hơn nếu như ta biết nhận lấy sai lầm một cách đúng đắn. Tôi đã từng nói rồi, và tôi sẽ nói lại lần nữa, nếu ta muốn thành công, hãy nhân gấp ba những sai lầm ta mắc phải. 

6. Sống với hiện tại:

“ Tôi không bao giờ nghĩ đến tương lai vì nó sẽ mau đến thôi.”
Cách duy nhất để hiểu được tương lai là sống càng thiết thực càng tốt trong hiện tại.
Ta không thể ngay tức thì thay đổi ngày hôm qua hay ngày mai, vì thế điều tối quan trọng là cống hiến tất cả cố gắng cho “bây giờ”. Nó là điều duy nhất có ý nghĩa, nó cũng là một thứ có một không hai.

7. Sống có giá trị

“Đừng cố gắng để thành công, hãy cố gắng sống có giá trị.”
Đừng lãng phí thời gian để thành công, hãy dành thời gian tạo ra giá trị. Nếu ta sống có giá trị, thành công sẽ tìm đến.
Hãy khám phá những tài năng và năng khiếu mình có, học cách làm thế nào để sử dụng tài năng và năng khiếu của mình có lợi nhất cho mọi người.
Lao động là vô cùng quý giá và thành công là thứ kéo ta tuột dốc.
 

8. Đừng trông mong những kết quả khác

“Sự điên rồ: làm hoài làm mãi một việc gì đấy và trông đợi những kết quả khác”
Ta không thể nào làm những việc tương tự nhau mỗi ngày và trông mong các kết quả khác đến. Nói cách khác, ta không thể cứ tập mãi một bài thể dục và trông đợi mình sẽ hoàn toàn khác đi. Để cuộc sống thay đổi, ta phải thay đổi đến mức độ hành động và suy nghĩ của ta thay đổi thì khi đó cuộc sống sẽ thay đổi.

9. Kiến thức là nhờ kinh nghiệm:

“Thông tin không phải là kiến thức. Nguồn duy nhất của kiến thức chính là kinh nghiệm”

Kiến thức là nhờ vào kinh nghiệm. Ta có thể trao đổi về công việc của mình, nhưng trao đổi chỉ cho ta hiểu biết triết tính về nó, ta phải bắt tay vào làm để biết xem “nó là gì”. Bài học là gì? Hãy tích lũy kinh nghiệm. Đừng giấu mình sau những thông tin nghiên cứu ấy, hãy ra ngoài và thực hiện nó và ta sẽ có được những kinh nghiệm vô giá.

10. Hiểu rõ luật để chơi tốt hơn:
 
“Ta phải biết luật chơi. Và sau đó ta phải chơi tốt hơn tất cả những người khác.”
Nói một cách đơn giản, có hai điều cần ghi nhớ. Điều đầu tiên là học cách chơi của trò ta đang chơi. Nghe thì không hay lắm nhưng nó là yếu tố sống còn. Thứ hai, ta phải chắc rằng ta chơi tốt hơn bất cứ ai. Nếu như làm được hai điều này, thành công là của ta đấy !!
 

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Đàn ông Việt thường quên nịnh vợ

Đàn ông Việt thường quên nịnh vợ

 
Đàn ông Việt thường quên nịnh vợ

Các cụ thường nói “gái tai, trai mắt”, tức đàn bà thích nghe ngọt, đàn ông thích ngắm (gái) đẹp. Vậy mà đàn ông Việt thường “quên” nịnh vợ.  
Có một bà vợ thường làm các món ăn rất công phu, cầu kỳ, nhưng chồng lại tỏ ra không biết thưởng thức. Một hôm bà tức mình, luộc một mớ cỏ cho chồng ăn. Chồng ngạc nhiên: “Cái gì thế này? Không thể nào nhai được!”. Bà vợ vui vẻ hẳn lên: “Thế ra ông cũng biết là không ăn được à? Vì mọi khi, tôi thấy ông ăn cái gì cũng như nhau cả mà!”
Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”, nhưng hình như với các ông chồng đã kết hôn vài năm, câu nói đó bị họ quên mất. Có chị may được bộ váy mới, mặc thử vào, cứ đứng ngắm mãi trước gương, hết quay đằng trước lại quay đằng sau, mà chồng ngồi đọc báo ngay cạnh chẳng nói câu nào. Cực chẳng đã, chị phải cất lời hỏi: “Anh thấy em mặc bộ này có được không?” Anh ta vẫn không rời mắt khỏi tờ báo: “Cũng được”.
Đó là chưa kể còn có những anh, vợ mặc kiểu gì cũng chê không thương tiếc: “Bộ này không được, trông buồn cười lắm!…”, khiến vợ ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Có chị cảm thấy bất lực, dường như không thể làm đẹp để chồng hài lòng được. Và những ông chồng như thế, dẫu có tận tụy với vợ con đến mức nào cũng khó được vợ yêu, gia đình kém hạnhphúc.
Người phương Tây có một nét văn hóa truyền thống là khen phụ nữ, mà nhiều người gọi đùa là “nịnh đầm”. Nó gần như một thứ “nghĩa vụ bất thành văn” của phái mạnh, không biết điều đó không phải là người lịch sự, văn minh. Chúng ta du nhập và ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, nhưng “văn hóa nịnh đầm” rất đẹp này lại không vào được bao nhiêu. Ở Việt Nam, rất ít khi nghe chồng khen vợ. Ngay cả những người đàn ông, có thể nói là lịch lãm, hình như cũng nghĩ rằng, nói chung, phái đẹp cần được đàn ông tán thưởng, trừ… vợ anh ta. Liệu họ có biết, người vợ nào cũng sung sướng khi được chồng khen? Chắc anh nào cũng biết, bằng chứng là khi chinh phục nàng, chẳng anh nào lại không sử dụng thứ vũ khí này, nào là: “Em có mái tóc rất đẹp! Em có giọng nói rất hay!…” Có anh còn “dẻo mỏ”: “Em hút hồn anh ngay từ lần đầu mới gặp. Đôi mắt em sao mà sâu thăm thẳm!”…
Thế nhưng, từ khi đã thành “của nhà”, họ không làm thế nữa. Họ xếp thứ vũ khí sắc bén đó vào kho, để cho nó hoen rỉ mà không biết  người vợ vẫn rất cần những lời có cánh ấy. Có người còn đi tìm nó không phải từ chồng.
Có nhiều đàn ông biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp phụ nữ ở đâu đó, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng chỉ cần về đến nhà, anh ta lại để “bảo bối” ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra … lên chân. Cũng có thể họ nghĩ, đàn bà nào chẳng thích khen, nhưng thích lời khen “ngoại” chứ thích gì của “nội”? Nếu nghĩ thế, bạn đã lầm. Con khen cũng thích. Chồng khen lại càng thích. Lời khen chẳng bao giờ thừa cả. Bạn thử hỏi các ca sĩ xem, có ai thấy chán ngán cảnh khán giả vỗ tay nhiều quá không? Có ai khó chịu khi những “fan” hâm mộ vây quanh xin chữ ký không? Những người sống gần mình, quen biết với mình mà vẫn khen mình, thì càng có giá trị.
Người ta kể rằng, có một gã chiếm được hàng trăm trái tim phụ nữ, và sau đó chiếm đoạt luôn cả tài sản của họ, nên cuối cùng phải vào tù. Một nhà tâm lý tò mò đến tận nơi, xem hắn có bí quyết gì. Ông ta rất bất ngờ vì đó là một gã đã luống tuổi, hình thức bình thường, duy chỉ có cái miệng rất có duyên. Ông hỏi: “Làm thế nào anh chinh phục được nhiều phụ nữ như vậy? “Hắn trả lời cụt lủn: “Có gì đâu. Cứ khen nhiều vào…”
Nhà tâm lý nổi tiếng người Mỹ – Dale Carnegie – thường đi giảng ở các lớp học làm vợ, làm chồng. Một hôm, sau bài giảng về nghệ thuật làm chồng, ông ra bài tập cho học viên về nhà làm. Ông yêu cầu tất cả đàn ông thực hiện “Một tuần lễ khen vợ”, ngày nào cũng khen từ sáng đến tối. Ông cam đoan sẽ thấy hiệu quả ngay. Học viên chẳng mấy người tin. Có người còn nghĩ là ông nói đùa, nhưng số đông vẫn thử “làm bài tập” xem sao…, và kết quả thật bất ngờ!
Một anh vừa ngủ dậy, nhớ đến bài tập, nói luôn: “Nằm cạnh em sướng thật, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát”. Vợ tát yêu một cái. Vợ tập thể dục xong, chồng lại khen: “Hồi này trông thần sắc em rất tốt!” Vợ càng ngạc nhiên, vì chưa bao giờ thấy chồng để ý đến mình. Lúc dọn món ăn sáng ra, anh ta lại xoa hai bàn tay: “Chà, em làm món gì trông ngon thế!” . Vợ sung sướng nguýt yêu chồng một cái nữa. Ăn xong anh ta lại khen: “Anh thấy đi ăn sáng ở đâu cũng chẳng bằng em làm!”
Trước khi đi làm, ngắm vợ một phút, anh lại thốt lên: “Em mặc bộ này trông quá được!”. Không ngờ, chỉ trong vòng một tiếng, mới khen có mấy câu, mà chưa bao giờ, anh ta thấy trên gương mặt vợ lại có những nét hạnh phúc ngời ngời đến thế! Ra đến cửa, anh còn quay lại: “Anh đi nhá! Em rất tuyệt”. Hết tuần, có học viên báo cáo với thầy là, chỉ sau một “tuần lễ khen”, anh ta được hưởng hạnh phúc hơn 10 năm chung sống cộng lại.
Một khi đã kết hôn, ai chẳng muốn có hôn nhân hạnh phúc, muốn được vợ yêu. Và để đạt được mục đích ấy, nhiều người đã phải đổ biết bao công sức. Họ lao động cật lực hàng chục giờ mỗi ngày, mua tặng vợ những tặng phẩm đắt tiền, đưa cả nhà đi nghỉ cuối tuần…. Nhưng có một thứ, người vợ nào cũng khao khát, thì họ lại quên. Đó là lời khen.
Tuy nhiên, nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh… miễn sao phải chân thật. Khen bừa lỡ thành mỉa mai, thì sẽ tác dụng ngược đấy!
 keditim (sưu tầm)
Mỹ Trang chuyển
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

7 sai lầm “chết người” khi dùng điện thoại

7 sai lầm “chết người” khi dùng điện thoại
Trong bài viết này là những thói quen sử dụng điện thoại không tốt, qua đó bạn đọc có thể rút ra được những kinh nghiệm khi sử dụng điện thoại của mình.
Ảnh
Smartphone đang ngày càng phổ biến và trở thành quan trọng hơn trong cuộc sống của con người. Đâu đâu cũng thấy smartphone: người già, trẻ nhỏ, công chức, sinh viên,… Hầu như ở các đô thị, smartphone là “điều kiện cần và đủ” để gia nhập vào cuộc sống tấp nập, hối hả nơi đây.
Tuy nhiên, trong khi hàng ngày sử dụng thiết bị thông minh rất tiện ích này, chúng ta vẫn có những thói quen xấu, không chỉ xấu cho thiết bị, mà còn ảnh hưởng cả đến sức khỏe của bản thân.
Bài viết này sẽ điểm qua những thói quen sử dụng điện thoại không tốt, qua đó bạn đọc có thể rút ra được những kinh nghiệm khi sử dụng điện thoại của mình.

Sai lầm 1: Sạc điện thoại qua đêm

Vấn đề này e rằng bất cứ ai dùng smartphone đều mắc phải, đặc biệt là nếu bạn sử dụng những smartphone mạnh mẽ, cao cấp với hiệu năng xử lí mạnh.
Ảnh
 
Với công nghệ chip xử lí “tiến hóa” quá nhanh, vượt xa công nghệ làm pin, thời lượng pin của smartphone ngày nay thường chỉ loanh quanh trong 1 ngày, nếu như sử dụng đầy đủ tính năng. Sau 1 ngày hoạt động miệt mài, đến buổi đêm, điện thoại của chúng ta thường “pip pip” đòi “ăn”. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sai lầm thứ nhất này.
Có rất nhiều người cho rằng pin của những thiết bị mới có mạch ngắt nguồn nên không cho dòng điện vào pin khi pin đã đầy. Đó là một suy nghĩ đúng, nhưng không phải chính xác. Việc làm này làm pin nhanh chai do khi bị sạc trong thời gian dài, nhiệt độ pin sẽ cao lên, các điện tử hoạt động nhiều và dần mất “hoạt tính”, lâu dần sẽ làm chai, giảm thời lượng. Nhiệt độ cao cũng dễ làm pin bị phồng rộp.
Tốt nhất, ngay khi về đến nhà, bạn hãy sạc điện thoại, trước khi đi ngủ thì rút sạc. Còn nếu bắt buộc phải sạc qua đêm, hãy đảm bảo tắt máy trước khi sạc. Điều đó sẽ hạn chế phần nào việc tăng nhiệt độ khi sạc pin.

Sai lầm 2: Để điện thoại thường xuyên ở túi áo, quần

Ảnh
 
Để điện thoại thường xuyên ở túi quần sẽ ảnh hưởng đến vùng “nhạy cảm”
Rất nhiều nghiên cứu khoa học, cũng như rất nhiều tin đồn lan truyền trên các trang mạng cho rằng việc để điện thoại ở các vị trí này sẽ làm hại đến các bộ phận “nhạy cảm” (đặc biệt là nam giới). Có điều này là vì điện thoại, đặc biệt là khi nhận cuộc gọi/tin nhắn, là một nguồn phát/thu nhận sóng điện từ mạnh, và sẽ có tác động đến các tế bào, bộ phận trong cơ thể người.
Tốt nhất, nếu có thể nên đặt điện thoại trong cặp xách (khi đi đường), hoặc đặt ở trên bàn (nếu ở văn phòng). Hoặc một giải pháp thuận tiên hơn, đó là bạn có thể sử dụng một chiếc bao da đeo thắt lưng, mặc dù điều này so với việc để trong túi quần cũng… không khác nhau là mấy.

Sai lầm 3: Rút nóng cáp usb khi đang kết nối với PC

Ảnh
 
Hãy thực hiện “thủ tục” trước khi rút cáp USB khỏi điện thoại
Do cơ chế Safely Remove của Windows hơi “củ chuối”, nên nhiều khi mọi người bỏ qua thao tác này. Điều này dẫn đến việc tuổi thọ của thẻ SD vốn đã thấp lại càng dễ bị shock và hỏng nhanh hơn.

Sai lầm 4: Lười vệ sinh điện thoại

Như ta đều biết, điện thoại ngày nay được sử dụng với cường độ cao, do đó dễ gây ra nhiều vết bẩn, xước, dính nhiều thứ bụi bẩn, mồ hôi,… Theo như một nghiên cứu, bàn phím (hoặc màn hình điện thoại ít được lau chùi), có độ bẩn không thua kém gì … bồn cầu.
Ảnh
 
Điện thoại nhiều khi rất bẩn
Chúng ta nên thỉnh thoảng vệ sinh lại chiếc điện thoại yêu quí của mình, đừng để đến khi “sự đã rồi”, mắc bệnh gì đó hoặc các phím bị kẹt vì bụi bẩn mới chịu “ra tay” thì đã muộn.
Ảnh
 
Nên vệ sinh điện thoại thường xuyên

Sai lầm 5: Thiết lập độ sáng màn hình cao

Độ sáng màn hình điện thoại ngày nay được cố gắng nâng lên cao, vì chúng ta ngày càng sử dụng ngoài trời nhiều hơn, cần một độ sáng cao để hình ảnh được rõ ngoài trời nắng.
Ảnh
 
Thiết lập độ sáng màn hình phù hợp
Thế nhưng, độ sáng cao lại là nguyên nhân gây mỏi mắt chính cho người dùng điện thoại. Vì vậy, khi trời tối, hoặc khi ở trong nhà, tốt nhất ta nên thiết lập lại độ sáng, có lẽ không nên quá 50%. Ánh sáng này làm dịu mắt hơn, đặc biệt với những người có tật về mắt như cận thị chẳng hạn.

Sai lầm 6: Cố gắng sử dụng điện thoại khi sắp hết pin

Xin khẳng định với bạn một điều, đây là cách dễ dàng nhất để làm hại đến bộ não của chúng ta bằng điện thoại di động.
Ảnh
 
Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi điện thoại chỉ còn 1 vạch (khoảng dưới 20% pin), sóng điện từ phát ra từ điện thoại mạnh hơn gấp 1000 lần so với khi pin đầy. Với cường độ này, chỉ cần gọi trong 10 phút (nếu điện thoại còn chưa hết pin), người dùng sẽ gặp ngay các hiện tượng cấp tính như chóng mặt, buồn nôn, choáng váng.
Tốt nhất, hãy sạc điện thoại của bạn trước khi thực hiện cuộc gọi, hoặc sử dụng tai nghe nối dài.

Sai lầm 7: Đưa điện thoại lên tai khi phía bị gọi chưa đổ chuông

Đây là một trong những lúc điện thoại phát sóng mạnh nhất để “truy tìm” người gọi ở đầu dây kia. Tác hại tương tự như ở trường hợp trên.
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Thần dược’ quế

Thần dược’ quế 

Dùng 1 g quế mỗi ngày sẽ giảm đường huyết, giảm nguy cơ ung thư ruột kết, bệnh tim mạch. Hương quế giúp tăng cường trí não. 
Quế không chỉ là gia vị nấu nướng mà còn là vị thuốc thiên nhiên hữu ích. Dưới đây là những lợi ích tuyệt vời mà quế mang lại cho sức khỏe, theo Care 2.
 
 
nocookie
 
Chống đông máu 
Cinnamaldehyde, thành phần chính trong tinh dầu quế có thể ngăn ngừa đông máu. Quế thực hiện điều này thông qua ức chế việc sản sinh acid béo gọi là arachidonic từ màng tiểu huyết cầu và giảm sự hình thành thromboxane A2, chất hỗ trợ đông máu. Tác dụng ức chế sản sinh acid arachidonic cũng khiến quế trở thành một chất kháng viêm tự nhiên. 
Chống vi khuẩn 
Tinh dầu quế đã được chứng minh là có khả năng ngăn chặn sự phát triển của nhiều loại nấm và vi khuẩn. Đặc tính kháng khuẩn này hiệu quả đến nỗi những nghiên cứu gần đây cho thấy quế có thể được sử dụng để bảo quản thức ăn. 
Kiểm soát đường huyết 
Quế có khả năng chống oxy hóa mạnh, đồng thời cũng có thể giúp điều hòa đường huyết nhờ khả năng giúp cơ thể kiểm soát cảm giác đói và cải thiện mức độ nhạy cảm của hormone insulin ở những người tiểu đường týp 2. 
Dùng 1 g quế mỗi ngày giúp giảm đường huyết, triglycerides, LDL cholesterol (cholesterol xấu) và cholesterol toàn phần đối với những người mắc tiểu đường. Ngoài ra, quế còn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở những người tiểu đường týp 2. 
Tăng cường chức năng não 
Ngửi mùi hương quế có thế giúp đẩy mạnh hoạt động não. Quế giúp tăng cường khả năng nhận thức của những người tham gia vào nghiên cứu với các hoạt động: 
– Các nhiệm vụ đòi hỏi quá trình tập trung. 
– Nhận diện và ghi nhớ. 
– Sử dụng trí nhớ ngắn hạn hay trí nhớ làm việc. 
– Vận động của thị giác khi làm việc với chương trình máy tính. 
Cải thiện sức khỏe ruột kết và bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tim 
Quế là nguồn cung cấp chất xơ, canxi và những khoáng chất cần thiết khoáng chẳng hạn như mangan. Canxi cùng với chất xơ giúp loại bỏ muối mật ra khỏi cơ thể, nhờ đó bảo vệ và giảm nguy cơ ung thư ruột kết. 
Ngoài ra, quế còn làm giảm nồng độ cholesterol, ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh tim. Chất xơ có trong quế cũng rất hiệu quả đối với táo bón và tiêu chảy. 
Tác dụng làm ấm 
Từ lâu, quế đã được sử dụng trong y học truyền thống nhờ các tác dụng làm ấm của nó, đặc biệt khi bị cảm lạnh hay cảm cúm
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

BANDITO

Đúng là đi với ma thì mặc áo giấy.
Dùng biện pháp đạo tặc để đáp trả đạo tặc.
Vì bán bức tranh đó với giá 200.000 USD và tựa đề đó chính là khủng bố.

BANDITO

Ngày xửa ngày xưa, có 1 họa sĩ trẻ, không có tiếng tăm, sống trong 1 căn phòng chật hẹp, cũ kỷ, chuyên đi vẽ chân dung cho người khác kiếm sống qua ngày.
 
Một ngày nọ, có 1 nhà phú hộ, thấy những bức tranh của chàng họa sĩ trẻ rất sống động, nên đến nhờ chàng vẽ cho 1 bức chân dung. Đôi bên đồng ý với giá là 10000 đồng.
 
Sau 1 tuần lễ, bức tranh đã hoàn thành, nhà phú hộ đến đúng hẹn để lấy tranh. Đến lúc đó, ông nhà giầu đó sanh lòng phản phúc, vì thấy chàng họa sĩ vừa trẻ, vừa nghèo vừa chả tiếng tăm gì, nên đã không chịu trả đúng số tiền đã thỏa thuận từ trước. Vì Ông ta nghĩ bụng rằng: Bức tranh là chân dung của mình, nếu ta không mua, thì chả có ai bỏ tiền ra mua cả! Thế thì tại sao ta lại phải trả đến giá cao như thế cho bức tranh này? Nghĩ thế ông ta bèn trở mặt, không chịu trả đúng 10000 như đã giao hẹn nữa, mà chỉ chịu trả 3000 đồng thôi.
 
Chàng hoạ sĩ trẻ choáng váng, vì chưa gặp chuyện như thế bao giờ, nên đã kiên nhẫn, cố gắng giải bầy cặn kẽ cho ông khách đó rằng, đây là đã giao hẹn rồi, xin ông hảy nên làm người giữ chữ Tín. Ông khách thấy thế, biết là mình đã chiếm thượng phong, bèn dứt khoát: Thôi anh đừng dài dòng lôi thôi, tôi hỏi anh, 3000 có chịu hay không??
 
Chàng hoạ sĩ nghe thế, biết là cha này chơi xỏ lá, tay trên, bèn cố nén cơn giận, trả lời người khách với 1 giọng kiên quyết: Không bán! Tôi thà thí công vẽ, chứ nhất định không chịu để ông làm nhục tôi như thế! Hôm nay ông nuốt lời, bất tín với tôi, thì tương lai chắc chắn ông phải trả giá gấp 20 lần!!
 
-Cái gì? Anh nói giỡn chơi! 20 lần là 200000, tôi đâu có ngu mà trả đến 200000 để mua bức tranh này!!
 
– Rồi ông sẽ biết!  –Chàng họa sĩ nói theo khi người khách bỏ đi!
Trải qua câu chuyện đau lòng như thế, chàng họa sĩ đã dọn đi, đến 1 nơi khác, tầm sư học nghề, khổ công luyện tập.
 
Trời không phụ lòng người, mười mấy năm sau, chàng đã dành được 1 chỗ đứng khá quan trọng trong giới hội họa, trở nên 1 họa sỉ khá nổi tiếng. Còn nhà phú hộ? Ngay ngày hôm sau thì ông ta đã quên mất câu chuyện chơi xỏ thằng họa sĩ trẻ đáng thương đó rồi.
……………………………………..
 
Cho đến 1 ngày, có mấy người bạn thân đã đến kễ cho ông ta nghe cùng 1 câu chuyện lạ:
-Này ông! có 1 câu chuyện lạ ghê! mấy ngày nay, chúng tôi có đi xem 1 buổi triển lãm tranh của 1 ông họa sĩ nổi tiếng, ở đó có treo 1 bức tranh đề giá chắc nịch, mà trong tranh là 1 nhân vật trông y hệt như Ông, giá đề: không thương lượng: 200.000 đồng!
 Mà cái buồn cười là, tiêu đề của bức tranh là:
BANDITO!! ( Đạo tặc!! ).
 
 
BANDITO
 
Như bị trời giáng, ông nhà giầu nhớ ngay đến câu chuyện năm xưa!
Lúc ấy, ông mới biết là việc mình làm ngày trước đã tổn thương người họa sĩ trẻ đến mức nào. Ngay tối hôm đó, ông ta đã tìm ngay đến chàng họa sĩ, thành thật xin lỗi, và ngỏ lời xin mua lại bức tranh đó với giá 200000 đồng .
 
Chàng họa sĩ trẻ đó tên là: Pablo Ruiz Picasso.(1881—1973) ( Picasso)
 
Không ai có thể đánh bại và làm nhục ta ngoại trừ chính ta. . … Đó là tâm niệm của Ổng !!
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này